Thực tiễn đào tạo báo chí

  发布时间:2025-04-03 16:13:57   作者:玩站小弟   我要评论
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho ngành báo chí,ựctiễnđàobxh bd việt nambxh bd việt nam、、。

Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho ngành báo chí,ựctiễnđàotạobáochíbxh bd việt nam từ việc tự động hóa quy trình sản xuất tin tức, phân tích dữ liệu đến tối ưu hóa nội dung và tương tác với độc giả. Tuy nhiên, để khai thác tối đa tiềm năng của AI, cần có một lực lượng lao động được đào tạo chuyên sâu và nắm vững các công nghệ mới.

Thách thức và cơ hội 

Hiện nay, trên thế giới đã có một số cơ quan báo chí - truyền thông ứng dụng AI trong việc hỗ trợ các nhà báo sáng tạo tác phẩm. Có thể kể đến như The Washington Post với hệ thống AI mang tên Heliograf, được sử dụng để tự động tạo ra các bài viết ngắn về kết quả bầu cử, thể thao và các sự kiện quan trọng khác. 

Hãng thông tấn Associated Press (AP) sử dụng công nghệ AI từ Automated Insights để tự động hóa việc viết các báo cáo tài chính. Reuters phát triển một công cụ AI có tên là Lynx Insight, được thiết kế để hỗ trợ các nhà báo trong việc phân tích dữ liệu và phát hiện các câu chuyện tin tức tiềm năng.

Hãng tin Bloomberg sử dụng AI để tự động hóa việc tạo ra các bài viết về tài chính và kinh tế thông qua hệ thống Cyborg. The Guardian sử dụng AI để tối ưu hóa tiêu đề bài viết và cải thiện chiến lược nội dung. Bằng cách phân tích dữ liệu về hành vi của độc giả, AI giúp The Guardian xác định các tiêu đề hiệu quả nhất để thu hút sự chú ý và tăng lượng truy cập.

Ở Việt Nam đã có một số cơ quan báo chí ứng dụng AI vào quy trình sản xuất tin bài với các mức độ khác nhau. VnExpress ứng dụng AI hoàn toàn trong việc sản xuất podcast Điểm tin, từ việc biên tập lựa chọn tin, cho đến đọc tin, lồng nhạc nền. Báo Lao động sử dụng AI tạo biên tập viên ảo dẫn chương trình video của báo. 

Một số báo như Tuổi Trẻ, VietnamPlus,… đã triển khai AI để hỗ trợ biên tập và sản xuất tin bài, phân tích dữ liệu về hành vi người dùng trên trang web, từ đó đề xuất các chủ đề và bài viết mà độc giả có thể quan tâm. Ngoài ra, các ứng dụng từ AI còn hỗ trợ nhà báo trong việc kiểm tra chính tả, ngữ pháp, và tối ưu hóa tiêu đề để thu hút lượng truy cập nhiều hơn. 

Tuy nhiên việc đào tạo báo chí – truyền thông ở Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống trong việc cập nhật xu hướng AI. Từ thực tiễn này, các trường đại học trên thế giới đã nhận thấy tầm quan trọng của việc tích hợp AI vào chương trình đào tạo báo chí để chuẩn bị cho sinh viên những kỹ năng cần thiết. Tại Mỹ, trường Đại học Columbia tích hợp AI vào các khóa học báo chí bằng cách đào tạo sinh viên về phân tích dữ liệu, lập trình và sử dụng các công cụ AI. 

Tại châu Á, có Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc) và Đại học Quốc gia Singapore cũng đã đưa AI vào chương trình giảng dạy từ rất sớm. Vậy thực trạng đào tạo báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên AI ở Việt Nam ra sao?

Quá sức, quá tầm?

Theo thống kê, đào tạo báo chí truyền thông trong những năm qua ở nước ta không ngừng được mở rộng, ngoài những cơ sở công lập như: Đại học (ĐH) Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội và TP.HCM; ĐH Văn hóa Hà Nội; ĐH Khoa học (Đại học Huế); ĐH Sư phạm Đà Nẵng (Đại học Đà Nẵng); ĐH Khoa học, ĐH Công nghệ - Thông tin và Truyền thông (Đại học Thái Nguyên); Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT); Học viện Phụ nữ;… còn phải kể đến các trường ngoài công lập như ĐH Văn Lang, ĐH Thăng Long, ĐH Đại Nam, RMIT…

Bao chi Ai.jpg
Sinh viên Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông trong giờ học thực hành sản xuất podcast và video.

Đông nhưng có mạnh? Nhìn chung, các cơ sở đào tạo báo chí ở Việt Nam đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và xây dựng chương trình, đề cương bài giảng một cách công phu và bài bản. Tại PTIT, chương trình đào tạo đã cập nhật theo hướng báo chí – truyền thông số, với nhiều môn học mới như: Tổ chức sản xuất podcast/video, Báo chí dữ liệu; Công nghệ AI/ Báo chí số. Tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền hay ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn lại tích hợp các môn học theo xu hướng số như sản xuất audio và video, truyền thông xã hội…

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu mới trong bối cảnh phát triển báo chí - truyền thông hiện đại, việc thay đổi, cập nhật, và hoàn thiện hệ thống giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo về đào tạo báo chí cần được tiến hành đồng bộ và quy mô hơn nữa tại tất cả các cơ sở đào tạo về báo chí – truyền thông không chỉ riêng lĩnh vực AI. Bài giảng, giáo trình, sách tham khảo về đào tạo báo chí theo xu hướng vẫn đang là điểm yếu cốt tử của ngành. Thực tế nhiều trường dù chương trình đào tạo có đề cập đến AI, nhưng số tiết học ít ỏi khiến sinh viên nắm được về AI tương đối mơ hồ. Thậm chí những mặt trái của AI cũng chưa được đề cập.

Sau giáo trình là vấn đề cơ sở vật chất và công nghệ, thay vì chỉ học lý thuyết việc xây dựng các phòng thí nghiệm, trang bị các công cụ AI là vô cùng cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, tính toán cân đối chi phí đào tạo, đây vẫn là một vấn đề lớn đối với nhiều cơ sở đào tạo, nhất là các trường không dồi dào ngân sách. Để khắc phục vấn đề này, các trường đào tạo báo chí – truyền thông có thể hợp tác với các công ty công nghệ như Google, Facebook,… để cung cấp cho sinh viên cơ hội thực hành và tiếp cận với các công nghệ mới nhất. 

Khó khăn mang tính cố hữu tiếp theo chính là nhân lực giảng dạy. Hiện quy mô đào tạo báo chí – truyền thông đang mâu thuẫn với số lượng giảng viên đạt chuẩn. Cụ thể, các trường đại học công lập và tư thục đều đang thiếu hụt các tiến sĩ, phó giáo sư và giáo sư chuyên ngành báo chí - truyền thông. Nguyên nhân chính là do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước mỗi năm chỉ đào tạo được rất ít tiến sĩ. Như vậy, chưa nói đến chuyện đủ nhân lực đáp ứng đào tạo báo chí – truyền thông theo xu hướng AI, mà nhân lực đào tạo cơ bản đang còn… thiếu và yếu.

Bên cạnh đó, việc tự cập nhật kiến thức mới về hoạt động báo chí – truyền thông nói chung, các xu hướng báo chí mới như AI nói riêng cũng đang có nhiều bất cập. Nhiều giảng viên đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, quản lý bị cuốn vào công việc hành chính, không có đủ thời gian để đi thực tế và cập nhật kiến thức mới, dẫn đến bài giảng thiếu tính thực tiễn. Các giảng viên trẻ cũng gặp khó khăn tương tự, khi họ phải đảm nhiệm nhiều công việc hỗ trợ, giảng dạy và ít có thời gian để nghiên cứu, soạn bài hay thực hành nghiệp vụ tại các tòa soạn báo chí và cơ sở truyền thông, khiến họ khó hòa nhập với thực tiễn nghề báo số hóa chứ không riêng lĩnh vực AI. 

Có thể nói, AI đang trở thành xu hướng phát triển mạnh mẽ không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Tuy nhiên, các trường đại học, học viện đào tạo về báo chí – truyền thông ở nước ta đang “khó khăn trăm bề” nên việc tích hợp sâu rộng các kỹ năng về AI và công nghệ số vào chương trình giảng dạy là cả một vấn đề nan giải. Tuy nhiên, AI vẫn là xu thế không thể đảo ngược. Chính vì vậy, không chỉ phải cập nhật giáo trình mà còn phải thay đổi từ nhận thức, tư duy đến hành động của đội ngũ lãnh đạo và giảng viên. Có như vậy việc đào tạo báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên AI ở nước ta mới theo kịp các nước!

TS. Lê Thị Hằng, ThS. Lê Tuấn Anh(Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông)

Đề xuất có ngưỡng đảm bảo đầu vào ngành Báo chí như với Sức khỏe, Sư phạmĐó là đề xuất từ một cơ sở đào tạo báo chí tại Hội thảo khoa học “Đào tạo báo chí - truyền thông trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay”.

相关文章

  • Nhận định, soi kèo Bistrica vs Koper, 21h00 ngày 1/4: Khó có bất ngờ

    Hư Vân - 01/04/2025 04:30 Nhận định bóng đá g
    2025-04-03
  • Gửi ý kiến về VietNamNet, độc giả Trần Bảo Lâmchia sẻ: "Thật sự là ban đầu cũng muốn cho các con đi học để giải toả tâm lý nhưng mà sau thấy các con đi học khổ quá, thầy cô cũng khổ luôn... Chỉ mong sao bệnh dịch sớm tàn và nếu có thể, hãy để qua đợt đỉnh dịch này rồi hãy mở cửa trường học lại nha!"

    "Đầu tiên và trước hết hãy để học sinh tiểu học quay trở lại học online, một triệu học sinh tiểu học đến trường đồng nghĩa 1 triệu phụ huynh đi theo và 1 triệu lít xăng (đang khan hiếm xăng) tiêu thụ mỗi ngày. Chưa nói kéo theo những hệ lụy khác khi mà học sinh tiểu học còn quá nhỏ..."- độc giả Le Longlo ngại. 

    Bên cạnh đó, hầu hết cho rằng, việc duy trì dạy học online và dạy trực tiếp như hiện nay còn nhiều bất cập, không hiệu quả.

    Chị Thanh Tú(Cầu Giấy) nói: “Phụ huynh kêu mãi mà có ai nghe đâu. Để 1 học sinh đến lớp cũng dạy trực tiếp còn mấy chục cháu thì ngồi nhà xem video nhưng ngáp ngủ. Theo tôi nghĩ, khi số đa không thể đến trường thì việc học online hoàn toàn có khi còn chất lượng hơn việc nhất định phải mở cửa trường”.

    Trong khi đó, chị Ngọc Hà(quận Ba Đình) nêu thực tế: “Gia đình đồng ý cho con đến lớp thì đến lớp cô lại F0. Như vậy, dù con đến lớp nhưng có 5 tiết thì đến 4 tiết online, học sinh đến trường ngồi học trực tiếp ở giai đoạn này thực sự cũng không quá cần thiết hay mang lại hiệu quả khác biệt”.

    Dù có nhiều cách thức để triển khai “dạy online trong lớp offline”, theo chị Thu Huyền - phụ huynh có con đang học cấp 2 nhận định cách dạy “nửa nọ nửa kia” không thể hiệu quả.

    “Tôi nghĩ rằng, khi đã học như vậy, thầy cô sẽ ưu tiên cho các bạn học trực tiếp hơn. Còn với các bạn học online sẽ “theo được đến đâu thì theo” do thầy cô không thể phân thân được. 

    Nhưng kể cả, giáo viên có thể bao quát được hết học sinh đi chăng nữa, thì hiệu quả vẫn không thể giống như khi chỉ dạy theo một hình thức do thầy cô đang bị quá tải”.

    {keywords}
    Hình ảnh những lớp học chỉ 1 học sinh được chia sẻ trên mạng xã hội liên tiếp những ngày qua

    Vừa phải 'ON' vừa phải 'OFF'

    Một phụ huynh hài hước: Nếu như bật công tắc điện chỉ được lựa chọn ON hay OFF thì hiện nay giáo viên, phụ huynh và học sinh phải đồng thời sử dụng 2 nút cùng 1 lúc.

    Trong khi đó, một chuyên gia giáo dục đặt câu hỏi: “Các quy tắc phục vụ số đông gần như đã không còn hiệu lực trong các trường học trong thời gian gần đây. Khi số ít đến trường, số đông ở nhà, vậy bài giảng nên được thiết kế chính cho số học on hay cho số học off?".

    'Ở Mỹ khi trẻ con chưa chích vắc xin mà diện F0, F1 thì phải nghỉ ở nhà 2 tuần.Trong thời gian đó học qua Google Classroom, làm bài và nghe bài giảng có sẵn, tự đọc sách thôi, chứ cũng không có kiểu 'trộn' như Việt Nam'- một giáo sư người Việt ở bang Wisconsin chia sẻ. 

    Nhiều độc giả đồng tình rằng trong điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng và áp lực vì số F0 gia tăng như hiện nay, giáo viên quá vất vả để dạy học, đặc biệt là dạy online kết hợp offline. Trong khi đó, việc dạy on - off không đơn thuần chỉ là 'trộn' một cách cơ học.

    Riêng về việc có những nơi duy trì học trực tiếp dù chỉ có 1 học sinh đến lớp, bà Văn Thùy Dương, Phó Hiệu trưởng Trường THCS-THPT Lương Thế Vinh nói đó là tư duy quá cứng nhắc. Trường Lương Thế Vinh đã có 428 học sinh là F0 và 459 em thuộc diện F1, một số giáo viên cũng đang phải cách ly.

    “Nếu một lớp 40 em, nhưng chỉ còn vài em có thể đến lớp thì không khí lớp học cũng bị chùng xuống. Việc tổ chức dạy học trực tiếp nhằm mục đích để học sinh có cơ hội giao lưu, trao đổi nhiều hơn với thầy cô, bạn bè, nhưng khi chỉ còn vài em học trực tiếp thì không còn thực sự hiệu quả”.

    {keywords}
    Một giờ học khi thầy giáo là F0. 

    Ở Trường THPT Yên Hòa, hơn 200 học sinh đã mắc Covid, hơn 600 học sinh diện F1; 22 lớp có trên 50% học sinh trong diện F0, F1.

    “Cứ thử hình dung như mỗi lớp sĩ số 50 em, khi 49 em đã phải học trực tuyến thì tại sao phải cố quá để tổ chức dạy trực tiếp một cách máy móc. 

    Tinh thần quyết tâm đến trường là đúng. Tuy nhiên, tôi nghĩ cần căn cứ vào thực tế để phù hợp với từng nhà trường. Để làm được vậy, trường phải dư thừa lực lượng. Nhưng như trường tôi hiện nay, để duy trì việc đủ người dạy đã khó khăn lắm rồi. Hiện giáo viên của chúng tôi là F0, F1 nhưng nếu đến giờ vẫn phải dạy trực tuyến để đảm bảo đủ người” - bà Nguyễn Thị Nhiếp, Hiệu trưởng nói .

    Trong trường hợp nhiều học sinh phải học trực tuyến ở nhà, chỉ một vài học trực tiếp trên lớp, bà Nhiếp cho rằng việc linh hoạt chuyển tất cả sang học trực tuyến vẫn hoàn toàn phù hợp, đảm bảo chất lượng.

    Còn nếu vừa phải dạy trực tiếp trên lớp cho nhóm học sinh, vừa dạy trực tuyến cho phần đa học sinh ở nhà thì giáo viên khi đó phải tính đến cả phương án thiết kế làm sao để không bỏ rơi một trong hai nhóm đối tượng. Vì thế mà sẽ vất vả hơn nhiều. Chưa kể vào lớp còn mất thời gian ổn định trên lớp lẫn kết nối số trực tuyến.

    Một băn khoăn nữa là, theo hướng dẫn mới nhất của Bộ Y tế về công tác phòng chống dịch Covid-19 khi tổ chức dạy học trực tiếp, thì khi có học sinh F0, phải tổ chức xét nghiệm kháng nguyên nhanh ngay cho toàn bộ học sinh của lớp đó.

    Hiệu trưởng một trường học ở quận Nam Từ Liêm ví rằng đây là “một cuộc chơi tốn kém”.

    Vị này tính toán: “Như trường tôi có 73 lớp, sĩ số trung bình mỗi lớp 36 học sinh. Nếu 1 ngày ở 60 lớp có F0, cứ tạm cho là mỗi lớp chỉ có 1 F0 thì nhân lên cũng đi tong 2.000 bộ test. Coi như giá mỗi bộ test rẻ 70.000 đồng, thì tổng số tiền nhà trường phải mất là 140 triệu đồng. Khả năng test gộp mẫu nhanh là khó với y tế của trường. Một tuần đi học dính 3 ngày như thế thì một tháng như vậy, tiền đâu cho đủ. Nhà trường nào và phụ huynh nào chịu cho thấu?”.

    Đồng quan điểm, Hiệu trưởng một trường THCS ở huyện ngoại thành Hà Nội cho rằng: “Ngoại thành còn khó khăn hơn các trường nội thành khi nguồn thu và điều kiện phụ huynh khó khăn hơn. Mỗi lớp khoảng 40 học sinh, mà giờ xác suất lớp nào cũng có F0, mỗi bộ test từ 70 đến 100.000, test đến các học sinh vào diện F1 cũng đã quá sức. Hôm trước, tôi cho test một lúc 16 cháu, y tế cứ kêu trời, bảo tôi làm thế thì tiền đâu ra”.

    Đông Hà

    Phụ huynh, hiệu trưởng xót xa khi giáo viên F0 dạy online

    Phụ huynh, hiệu trưởng xót xa khi giáo viên F0 dạy online

    Dù mắc bệnh và cần được nghỉ ngơi, nhưng phần lớn giáo viên diện F0 vẫn "vào lớp" dạy online hàng ngày. Áp lực với các nhà trường và giáo viên hiện rất lớn.  

    '/>

最新评论